GIỚI HẠN PHÁP LÝ CỦA CHỦ TRƯƠNG ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH
GIỚI HẠN PHÁP LÝ CỦA CHỦ TRƯƠNG ĐƯA TIẾNG ANH THÀNH NGÔN NGỮ THỨ HAI TRONG TRƯỜNG HỌC
▪︎ Trọng Nghĩa – Phường Cao Lãnh
Mình đã đọc đi đọc lại những văn bản liên quan đến chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, càng đọc càng thấy chuyện này không thể tiếp tục tranh luận theo kiểu rất hời hợt rằng ai đặt vấn đề về những hệ quả pháp lý, văn hóa hay giáo dục của vấn đề này thì người đó là người “sợ tiếng Anh”, “ngại hội nhập”, còn ai ca ngợi đó là sự hội nhập, toàn cầu hóa, công dân quốc tế là mặc nhiên mọi lý luận đưa tiếng Anh vào nhà trường đều đúng, đều tiến bộ và không cần phải hỏi thêm gì nữa. Nói như vậy thì nhẹ đầu thật, bởi nếu chỉ cần há miệng hô hai chữ “hội nhập” là đủ để thay cho việc giải thích về căn cứ pháp lý, phạm vi thẩm quyền, giới hạn thực hiện và quyền lợi của người học thì có lẽ Quốc hội cũng chẳng cần mất công làm Luật Giáo dục dài đến thế. Cái mình muốn bàn từ đầu tới giờ chưa bao giờ là chuyện tiếng Anh có ích hay không, vì chuyện ấy quá rõ rồi. Người Việt Nam biết thêm một ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh, đương nhiên là sẽ có thêm khả năng tiếp cận tri thức, khoa học, công nghệ và thế giới tốt hơn. Nhưng học một ngoại ngữ là một chuyện, sử dụng ngoại ngữ để dạy một số môn học lại là một chuyện khác, còn đưa ngoại ngữ đó thành một thứ gọi là “ngôn ngữ thứ hai trong trường học” thì đã bước sang một vấn đề khác hẳn về chính sách và pháp lý. Cứ gom cả ba tầng ấy vào rồi gọi chung là “nâng cao năng lực tiếng Anh” thì rất tiện lợi cho người giải thích thật, chỉ có điều càng tiện bao nhiêu thì cái ranh giới pháp luật vốn cần được làm rõ lại càng mờ đi bấy nhiêu.
Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, đồng thời lại nói riêng đến việc tăng cường giảng dạy các môn học bằng tiếng Anh tại những nơi có điều kiện. Chính cách viết đó đã cho thấy hai việc không hoàn toàn là một. Nếu “ngôn ngữ thứ hai” chỉ có nghĩa là dùng tiếng Anh để giảng dạy một số môn học thì đâu cần phải tách thành hai vế khác nhau trong cùng một chủ trương. Một vế đang nói về phương tiện dạy học, còn vế kia rõ ràng hướng đến một trạng thái sử dụng tiếng Anh rộng hơn trong môi trường trường học. Cũng chính vì thế mà mình cho rằng câu hỏi cần đặt ra không phải là “có nên học tiếng Anh hay không”, bởi hỏi như vậy quá dễ và quá thiển cận, mà phải hỏi xem cái trạng thái rộng hơn ấy là gì, nó mở rộng đến đâu, có làm phát sinh thêm quyền của cơ sở giáo dục hay thêm nghĩa vụ của người học hay không và quan trọng hơn hết là căn cứ pháp luật cho phần mở rộng ấy nằm ở đâu.
Động đến chuyện này thì phải quay trở về Hiến pháp để hỏi trước, để xem tiếng Anh xuất hiện trong vai trò ngôn ngữ thứ hai trong trường học có... “vi hiến” hay không, qua đó còn để hiểu cho đúng địa vị pháp lý của tiếng Việt đã được xác lập đến đâu. Khoản 3 Điều 5 Hiến pháp quy định ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt, trong khi Điều 42 ghi nhận quyền của công dân sử dụng tiếng mẹ đẻ và lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp. Hai quy định ấy hoàn toàn có thể tồn tại song song, bởi một bên nói đến địa vị hiến định của tiếng Việt trong quốc gia, còn một bên bảo đảm quyền tự do ngôn ngữ của cá nhân. Một học sinh nói tiếng Anh với bạn, một giáo viên đọc tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh, một trường tổ chức câu lạc bộ ngoại ngữ hay thậm chí một số môn học được giảng dạy bằng tiếng nước ngoài thì tự thân những việc ấy không hề làm tiếng Việt mất địa vị ngôn ngữ quốc gia. Nhưng từ quyền tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp của mỗi cá nhân mà suy ra rằng Nhà nước cũng có thể tùy ý đưa tiếng Anh vào mọi hoạt động của hệ thống giáo dục thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Người dân có quyền lựa chọn mình sẽ giao tiếp bằng ngôn ngữ nào, nhưng cơ quan quản lý muốn yêu cầu học sinh, giáo viên hay phụ huynh phải sử dụng một ngôn ngữ nào đó trong những hoạt động thuộc phạm vi quản lý của mình thì phải có căn cứ pháp luật rõ ràng. Không thể lấy quyền tự do ngôn ngữ của cá nhân để suy rộng ra thành quyền của cơ quan quản lý trong việc đặt ra nghĩa vụ ngôn ngữ đối với người khác. Một em học sinh thích nói tiếng Anh là quyền của em ấy; còn nếu em buộc phải biết tiếng Anh mới hiểu đầy đủ một thông báo ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi học tập của mình ở trường học thì câu chuyện đã khác. Một phụ huynh tự nguyện trao đổi với giáo viên bằng tiếng Anh là quyền của phụ huynh; còn nếu phụ huynh phải biết tiếng Anh mới hiểu hết một quyết định của nhà trường thì đã chuyển sang vấn đề thẩm quyền và quyền tiếp cận thông tin. Chỉ cần chuyển từ chữ “được” sang chữ “phải” thôi là cả bình diện pháp lý đã đổi khác rồi, vậy mà nhiều cuộc tranh luận cứ gom tất cả lại dưới một cái tên nghe rất êm tai xem đó chỉ là “môi trường tiếng Anh” của nhà trường, rồi xem như thế là xong.
Đến Điều 11 Luật Giáo dục thì mình thấy ranh giới ấy còn hiện ra rõ hơn. Luật quy định dứt khoát rằng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục, đồng thời giao Chính phủ quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài căn cứ vào mục tiêu giáo dục và yêu cầu cụ thể về nội dung giáo dục. Nói cách khác, Quốc hội đâu có đóng cửa với ngoại ngữ. Pháp luật đã mở sẵn con đường cho việc học ngoại ngữ, sử dụng ngoại ngữ và dạy học bằng tiếng nước ngoài, đến mức Chính phủ sau đó còn ban hành riêng Nghị định 222/2025/NĐ-CP để quy định việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài trong cơ sở giáo dục. Vậy thì khi hành lang pháp lý cho “ngoại ngữ” và “dạy, học bằng tiếng nước ngoài” đã có tương đối rõ, câu hỏi càng phải được đặt thẳng hơn rằng “ngôn ngữ thứ hai” thêm cái gì vào cấu trúc pháp lý ấy. Nếu chẳng thêm gì, vẫn chỉ là ngoại ngữ được học tốt hơn, dùng nhiều hơn và được sử dụng trong một số hoạt động dạy & học, thì thêm danh xưng cho nó để làm gì. Còn nếu có thêm (với ý đồ hay âm mưu gì khác), nếu tiếng Anh từ chỗ là ngoại ngữ được nâng cấp để bước sang một phạm vi rộng hơn, đi vào giao tiếp, quản trị, điều hành và nhiều hoạt động thường xuyên của nhà trường hơn, thì phần chức năng được thêm vào ấy không thể chỉ xuất hiện bằng một cách gọi mới mà không cần chỉ ra căn cứ luật định. Luật đã mở một cánh cửa cho dạy và học bằng tiếng nước ngoài, nhưng mở một cánh cửa đâu có nghĩa người thực hiện được quyền tháo luôn cả bức tường rồi giải thích rằng cửa vốn cũng nằm trên tường, trong trường hợp này đã vi phạm pháp luật về ngôn ngữ sử dụng trong trường học theo Điều 11 của Luật Giáo dục.
Điểm làm mình phải dừng lại lâu nhất vì vậy nằm ở Quyết định 2371/QĐ-TTg ngày 27/10/2025 phê duyệt Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Khi một khái niệm đã trở thành tên của cả một đề án quốc gia kéo dài hai mươi năm thì khó có thể tiếp tục xem nó chỉ là một cách diễn đạt mang tính khuyến khích. Đề án không chỉ nói đến chuyện học tiếng Anh tốt hơn mà hướng tới việc xây dựng một môi trường để tiếng Anh được sử dụng rộng rãi, thường xuyên trong dạy học, giao tiếp, “quản lý” và các hoạt động giáo dục của nhà trường. Chính chữ “quản lý” ở đây khiến mình cho rằng càng phải giải thích kỹ, bởi quản lý đâu chỉ là vài cuộc trò chuyện với chuyên gia nước ngoài hay vài phần mềm quốc tế nhà trường đang sử dụng. Quản lý nhà trường còn có thể liên quan đến điều hành, thông báo, nội quy, quy trình, hướng dẫn, hội họp, xử lý công việc với giáo viên, học sinh, phụ huynh và rất nhiều hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người trong cơ sở giáo dục. Nếu phạm vi “quản lý bằng tiếng Anh” chỉ giới hạn ở những hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế hoặc kỹ thuật chuyên môn thì hãy nói rõ giới hạn ấy; còn nếu nó được hiểu rộng tới mức tiếng Anh trở thành phương tiện thường xuyên trong hoạt động quản trị nội bộ thì lúc đó không thể tránh câu hỏi rằng Điều 11 Luật Giáo dục quy định tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục để làm gì. Pháp luật đâu phải câu khẩu hiệu trang trọng đặt ở đầu văn bản cho đẹp, còn bên dưới thích tổ chức thực tế thế nào cũng được. Một quy định của pháp luật có ý nghĩa không phải vì nó vẫn còn nằm nguyên trên giấy, mà vì đời sống thực tế vẫn phải chịu sự điều chỉnh của nó.
Mình nói như vậy không phải để kết luận rằng hễ trường học sử dụng tiếng Anh nhiều hơn thì tiếng Việt lập tức mất địa vị chính thức, cách lập luận đó cũng hời hợt chẳng kém gì cách nói ngược lại. Cái đáng lo nằm ở quá trình thay đổi từng bước, bởi chính sách công hiếm khi làm thay đổi một trạng thái pháp lý chỉ bằng một câu tuyên bố to tát nào đó; nhiều khi nó thay đổi bằng hàng loạt bước đi rất nhỏ, thậm chí âm thầm mà xã hội khó nhận biết, mỗi bước đứng riêng đều được giải thích rất nhẹ nhàng kiểu như “có gì đâu”. Hôm nay là khuyến khích sử dụng tiếng Anh, ngày mai là xây dựng môi trường tiếng Anh, sau nữa là đánh giá mức độ thực hiện, rồi từ đánh giá sinh ra tỷ lệ, kế hoạch, chỉ tiêu, nhiệm vụ của từng cơ sở. Đến một lúc nào đó, cái vốn được viết ở trung ương là “từng bước” xuống tới địa phương thành “phấn đấu”, xuống tới kế hoạch của nhà trường thì thành “chỉ tiêu”, rồi tới giáo viên và học sinh nhiều khi chỉ còn nghe đúng một chữ “phải”, phải làm chứ không phải bàn nữa. Mình không nói chuyện ấy chắc chắn xảy ra ở mọi nơi, nhưng đó là viễn cảnh có cơ sở và hoàn toàn có thể xảy ra, quản trị chính sách mà không tính trước nguy cơ biến khuyến khích thành áp lực thì cũng chẳng khác nào làm đường mà không cần lan can vì tin rằng người đi đường ai cũng sẽ tự biết tránh mép vực. Chính vì một chính sách có thể bị biến dạng trong quá trình thực hiện nên văn bản càng phải khoanh rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ, đâu là khuyến khích và đâu mới là yêu cầu bắt buộc.
Điều đáng chú ý nữa là Quyết định 2371 xây dựng cả lộ trình và các mức độ thực hiện đối với cơ sở giáo dục. Khi một chính sách đã có mục tiêu đến năm 2035, tầm nhìn 2045, đã có các mức thực hiện và hướng tới những tỷ lệ cơ sở đạt từng mức thì câu chuyện không còn nằm ở mấy hoạt động ngoại khóa vui vẻ nữa. Nó đã bước hẳn vào quản trị chính sách, mà đã bước sang quản trị thì chuyện đo lường, báo cáo và hoàn thành mục tiêu rất dễ tạo ra một căn bệnh quen thuộc trong giáo dục là người ta tìm thứ dễ đếm để thay cho thứ khó đo. Năng lực sử dụng tiếng Anh thật sự của học sinh khó đo và cần nhiều năm mới cải thiện, còn số lượng bảng hiệu tiếng Anh thì dễ đếm. Khả năng giao tiếp tự nhiên khó hình thành, còn số hoạt động mang tên “English Day” thì dễ báo cáo. Chất lượng giáo viên ngoại ngữ cần đào tạo lâu dài, còn đổi “Phòng giáo viên” thành “Teachers’ Room” chắc mất vài phút. Nếu cuối cùng mức độ “thành công” của một môi trường song ngữ lại được cảm nhận bằng mật độ tiếng Anh xuất hiện trên tường nhiều hơn bằng năng lực thật của người học thì e rằng ngành in bảng hiệu sẽ đóng góp cho hội nhập còn nhanh hơn ngành sư phạm. Đổi cái nhãn “ngoại ngữ” thành “ngôn ngữ thứ hai” cũng không phải một câu thần chú để trình độ của học sinh tự động tăng lên; người học giỏi ngoại ngữ nhờ giáo viên tốt, phương pháp tốt, thời lượng phù hợp, học liệu tốt, cơ hội thực hành thật và một quá trình đào tạo kiên trì, chứ không phải nhờ trường học nhìn ngày càng “English” hơn. À, còn chưa nói đến năng lực tiếp nhận ngoại ngữ nữa nhé...
Nghĩ tới đây mình càng thấy vấn đề không chỉ nằm ở địa vị của tiếng Việt sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực thế nào mà còn nằm ở quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng của người học. Một học sinh ở đô thị, được học ngoại ngữ từ nhỏ, gia đình có điều kiện, có thể học thêm, tiếp xúc với giáo viên tốt và môi trường tiếng Anh thường xuyên sẽ bước vào cùng một chính sách ở vị thế hoàn toàn khác một học sinh vùng nông thôn, vùng khó khăn hay gia đình không có điều kiện đầu tư ngoại ngữ. Nếu tiếng Anh chỉ là môn học thì sự chênh lệch ấy vốn đã đáng lo, còn nếu tiếng Anh từng bước trở thành phương tiện để tham gia vào nhiều hoạt động khác của môi trường trường học thì bất bình đẳng về năng lực ngoại ngữ hoàn toàn có thể biến thành bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận chính môi trường giáo dục. Một đứa trẻ còn yếu tiếng Anh phải được nhà trường dạy cho nó giỏi hơn, chứ không thể đem chính thứ năng lực nó chưa có ra làm điều kiện để nó tham gia đầy đủ vào đời sống học tập. Nếu có ngày một học sinh phải hiểu tiếng Anh mới nắm được những thông tin cơ bản ảnh hưởng đến mình thì chính sách đã đi một vòng lẩn quẩn rất kỳ lạ, bởi thứ lẽ ra phải là đối tượng của giáo dục lại biến thành điều kiện để tiếp cận giáo dục.
Mình cũng thấy cần nói cho thật chuẩn về vị trí pháp lý của Nghị quyết 71, bởi đây là chỗ rất dễ bị đánh tráo khái niệm theo cả hai phía. Nghị quyết của Bộ Chính trị không phải một loại văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cho nên không thể xử lý nó như cách xử lý một nghị định hay thông tư trái luật. Nhưng nói vậy không có nghĩa là chủ trương của Đảng được đặt ở đâu đó ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chính Hiến pháp quy định tổ chức Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, còn một chủ trương chính trị khi muốn tác động trực tiếp đến xã hội bằng quyền lực nhà nước thì phải được thể chế hóa. Khoảng cách từ “chúng ta muốn làm” đến “cơ quan nhà nước được quyền buộc người khác phải làm” chính là pháp luật, mà chính khoảng cách đó mới là nơi cần soi kỹ. Không thể vì Nghị quyết đã có chủ trương rồi mặc nhiên hiểu rằng Điều 11 Luật Giáo dục tự động nở rộng thêm nội dung để vừa với chủ trương. Luật không phải sợi dây thun, chủ trương mới xuất hiện đến đâu thì kéo dài luật đến đó. Nếu chủ trương vẫn nằm trong phạm vi luật hiện hành thì hãy chỉ ra nó nằm ở đâu; còn nếu muốn đi xa hơn luật hiện hành, cách minh bạch nhất vẫn là sửa luật và xác lập giới hạn mới một cách công khai. Nói như vậy thì chẳng lẽ Chủ trương đang lách luật?
Điều làm câu chuyện càng đáng suy nghĩ là trong quá trình xây dựng Luật Giáo dục năm 2019, chính vấn đề “ngôn ngữ thứ hai” đã từng được đặt ra chứ không phải khi ấy nhà làm luật chưa hề nghĩ tới. Đã từng có ý kiến đề nghị bổ sung quy định ngôn ngữ thứ hai là tiếng Anh hoặc một ngoại ngữ khác, và cơ quan của Quốc hội khi giải trình đã đặt vấn đề này trong quan hệ với các quy định hiến định về ngôn ngữ rồi cuối cùng vẫn giữ cấu trúc Điều 11 theo hướng tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức, còn tiếng nước ngoài được sử dụng trong dạy và học theo khuôn khổ luật định. Chi tiết đó không đủ để nói Quốc hội đã tuyên “ngôn ngữ thứ hai là vi hiến”, nói như vậy là đi quá xa tài liệu mà tôi hiện có, nhưng nó đủ để bác bỏ cách nghĩ rằng khái niệm này hoàn toàn mới và pháp luật trước đây chưa từng cân nhắc. Nhà làm luật đã có cơ hội nhìn thấy vấn đề ấy, nhưng Luật Giáo dục cuối cùng vẫn không thiết lập một địa vị pháp lý độc lập mang tên “ngôn ngữ thứ hai”. Bởi vậy, nếu bây giờ điều kiện phát triển đất nước đã thay đổi đến mức cần một mô hình pháp lý mới thì cũng chẳng có gì phải né Quốc hội. Cứ định nghĩa cho rõ, giải trình cho rõ, sửa luật nếu cần và nói thẳng tiếng Anh sẽ được sử dụng đến đâu, trường học được yêu cầu những gì, người học được bảo đảm những quyền gì, còn tiếng Việt giữ vị trí chính thức bằng cơ chế nào. Làm luật công khai còn dễ hiểu hơn nhiều so với việc để một thuật ngữ chính sách đi trước, còn nội hàm pháp lý thì dần dần được đổ vào sau.
Bởi vậy mình cho rằng câu hỏi “chủ trương này có vi hiến hay không” nếu chỉ đòi một chữ có hoặc không thì thật ra chưa chạm được phần khó nhất của vấn đề. Chỉ riêng việc Nghị quyết 71 sử dụng cụm từ “ngôn ngữ thứ hai” chưa đủ để kết luận rằng tiếng Việt đã bị tước mất địa vị hiến định, nhưng cũng tuyệt nhiên không thể lấy câu “chưa đủ căn cứ kết luận vi hiến” làm một tấm giấy thông hành cho mọi phương thức triển khai sau đó. Một chính sách cụ thể vẫn có thể phát sinh vấn đề hợp hiến, hợp pháp nếu nó vượt khỏi thẩm quyền được luật trao, biến khuyến khích thành nghĩa vụ bắt buộc mà không có căn cứ pháp luật, khiến người học hoặc phụ huynh khó tiếp cận đầy đủ quyền lợi bằng tiếng Việt, hoặc làm cho quy định “tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong cơ sở giáo dục” dần chỉ còn là một câu chữ đẹp nằm trong luật nhưng ít hoặc không còn tác dụng trong đời sống thực tế. Chính vì thế, cái cần theo dõi không chỉ là một cụm từ nằm trong Nghị quyết mà là cả quá trình nó được chuyển từ chủ trương sang đề án, từ đề án sang tiêu chí, từ tiêu chí sang kế hoạch, rồi từ kế hoạch thành yêu cầu cụ thể đối với từng trường học và từng con người trong đó.
Mình không tranh luận theo kiểu phải chọn một trong hai giữa tiếng Anh và tiếng Việt, bởi đặt vấn đề như vậy vừa cực đoan vừa quá đơn giản. Việt Nam hoàn toàn có thể đào tạo một thế hệ sử dụng tiếng Anh rất giỏi mà tiếng Việt vẫn giữ nguyên địa vị ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ chính thức trong cơ sở giáo dục. Hai mục tiêu ấy chẳng hề loại trừ nhau nếu chính sách được thiết kế đúng. Điều mình không đồng tình là sự mơ hồ về quyền hạn được che phủ bằng những mỹ từ rất đẹp về hội nhập, rồi đến khi hỏi tới giới hạn của nó với pháp luật thì câu trả lời lại quay về chuyện “tiếng Anh rất cần thiết”. Tiếng Anh cần thiết không có nghĩa mọi biện pháp liên quan đến tiếng Anh đều tự động đúng; cũng như thuốc có ích không có nghĩa uống bao nhiêu cũng tốt. Chính sách càng lớn, thời gian thực hiện càng dài, tác động càng sâu vào hàng chục triệu người học thì càng phải nói rõ mình đang làm gì, có quyền làm tới đâu và sẽ dừng ở ranh giới nào.
Tiếng Anh có thể là chiếc chìa khóa mở thêm rất nhiều cánh cửa ra thế giới, điều ấy mình chưa từng phủ nhận. Nhưng người ta mở thêm cửa để căn nhà rộng hơn, chứ không phải mở cửa mới rồi quên luôn đâu là kết cấu chịu lực của căn nhà. Với giáo dục cũng vậy, muốn hội nhập thì cứ hội nhập cho mạnh, muốn học sinh giỏi tiếng Anh thì hãy đầu tư để dạy cho thật giỏi, muốn dạy một số môn bằng tiếng Anh thì pháp luật cũng đã mở đường, nhưng khi bắt đầu nói tới một “ngôn ngữ thứ hai”, tới môi trường sử dụng thường xuyên, tới giao tiếp và quản lý giáo dục bằng tiếng Anh, thì càng phải trả lời cho thật rõ tiếng Việt vẫn được bảo đảm vị trí chính thức bằng cách nào, người học chưa giỏi tiếng Anh được bảo vệ ra sao, và cơ sở giáo dục được quyền đi tới đâu trước khi việc nâng cao ngoại ngữ biến thành một thay đổi thực tế về địa vị ngôn ngữ mà luật chưa từng gọi tên.
Đổi mới mà pháp luật phải chạy theo phía sau để giải thích cho những gì thực tế đã làm rồi thì đó là điều đáng lo. Đổi mới mà pháp luật đi cùng, vạch đường biên ngay từ đầu, nói rõ cái gì được làm, cái gì không được làm và quyền của người dân được bảo đảm đến đâu thì mới là đổi mới có trách nhiệm.
▪︎ Hết

Comments