2021/08/31

Một cú lừa?

Những ngày vừa qua, thông tin Liên hiệp hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đồng Nai(Donacoop) chuẩn bị nhập về 15 triệu liều vaccine Pfizer trong đầu tháng 9 khiến nhiều người hứng khởi.



Theo đó, Donacoop thông báo, doanh nghiệp này đã tham gia đàm phán và liên hệ với hai nhà sản xuất cung cấp vaccine là Công ty Pfizer – BioNtech và Công ty Janssen của Mỹ để nhập khẩu vaccine. Chính vì điều đó nên Donacoop đã kiến nghị với UBND tỉnh Đồng Nai tạo điều kiện thuận lợi cho DN này ngay từ thời điểm tháng 6/2021.

Ngay sau đó, ngày 10/6, UBND tỉnh Đồng Nai đã có công văn gửi Bộ Y tế đề nghị bộ này tạo điều kiện cho Công ty Donacoop nhập khẩu vaccine phòng COVID-19.

Tất nhiên...

Bộ Y tế hoàn toàn ủng hộ DN... nên vào ngày 11/6, Cục quản lý Dược, Bộ Y tế có văn bản gửi 2 ông lớn chuyên về vaccine là Pfizer và Janssen về việc hỗ trợ doanh nghiệp được kết nối mua vắc xin COVID -19.

Thế nhưng...

Khi mà Donacoop tung thông tin cho các kênh truyền thông trong nước về việc DN này đã đàm phán mua thành công 15 triệu liều vaccine Pfizer và nhập về Việt Nam trong tháng 9/2021. Thậm chí, nhiều DN tại Đồng Nai và TPHCM đã triển khai “đăng ký” để đặt chỗ tiêm cho công nhân và người thân.

Thì... bất ngờ đã xảy ra.

Đại diện Pfizer Việt Nam khẳng định họ chưa bao giờ làm việc với Donacoop và chưa có cuộc đàm phán nào với hãng tại Việt Nam.

Thế là sao? Thế là thế lào?

“Quan điểm nhất quán của hãng từ đầu là chỉ làm việc trực tiếp với Chính phủ và tổ chức COVAX để cung cấp vaccine cho cấp Chính phủ. Chúng tôi không biết doanh nghiệp này làm việc với bên nào để nhập vaccine về Việt Nam”- đại diện Pfizer nói. Theo Pfizer, họ chỉ ký kết và chịu trách nhiệm với hàng được ký kết trực tiếp với Chính phủ, không chịu trách nhiệm với hàng trôi nổi. Hiện Pfizer chưa cung cấp vaccine cho bất cứ doanh nghiệp hay cá nhân nào trên thế giới.

Nhưng như thế đã nhằm gì..

Càng sốc hơn nếu chúng ta biết rằng Donacoop không nằm trong danh sách 26 đơn vị được Bộ Y tế cấp phép đủ điều kiện kinh doanh nhập khẩu vaccine. Và điều kiện đưa vaccine về thì phải bảo quản ở đâu? Kho lạnh có đạt chuẩn âm sâu -60 đến -80 độ vẫn chưa thấy báo cáo phương án.

Đến đây, tất cả đều hiểu rằng chúng ta đã bị ăn bánh vẽ từ Donacoop. Sẽ chẳng có 15 triệu liều vaccine nào về Việt Nam trong tháng 9/2021 như DN này thông báo đâu. Có chăng chỉ là thịt lừa mà thôi. Donacoop mất gì hay không chưa biết nhưng hiệu quả về marketing là thấy rõ khi mà suốt thời gian qua, tên của DN này được nhắc miễn phí tràn ngập trên các mặt báo và phương tiện thông tin đại chúng.

Quá ngon!

* B-Lee.

Chuyện sɑo kê tiền từ thiện: Lý Hải - Minh Hà làm trong ‘1 nốt nhạc’, nhiều nghệ sĩ sɑo cứ trì hoãn?



Việc công bố hơn 200 trang sao kê chi tiết số tiền 6 tỷ đồng quyên góp giúp đỡ đồng bào miền Trung của vợ chồng Lý Hải - Minh Hà đã được nhiều khán giả dành lời ngợi khen vì rất rõ ràng, minh bạch, khách quan.

Gần đây từ khóa “nghệ sĩ làm từ thiện” và “tiền từ thiện” cùng những câu chuyện và nhân vật xung quanh luôn khiến dư luận đưa ra nhiều quan điểm cũng như góc nhìn khác nhau.

Đặc biệt, giữa ồn ào về số tiền hơn 13 tỷ đồng từ thiện đồng bào miền Trung mà nghệ sĩ Hoài Linh đang nắm giữ chưa kịp giải ngân mới đây, cư dân mạng bất ngờ khui lại bài đăng báo cáo số tiền làm từ thiện mà vợ chồng Lý Hải - Minh Hà từng kêu gọi mạnh thường quân đóng góp trong đợt lũ ở miền Trung hồi cuối năm 2020 vừa qua.

Với số tiền kêu gọi được là 6 tỷ đồng, hai vợ chồng Lý Hải - Minh Hà đã in sao kê chi tiết, rõ ràng lên đến hơn 200 trang. Việc công bố sao kê chi tiết số tiền 6 tỷ đồng quyên góp giúp đỡ đồng bào miền Trung của vợ chồng Lý Hải - Minh Hà đã được nhiều khán giả dành lời ngợi khen vì rất rõ ràng, minh bạch, khách quan.


Bên cạnh đó, bà xã Lý Hải - Minh Hà cũng từng chia sẻ rằng vì số tiền quỹ nhận được là 6 tỷ đồng nên 2 vợ chồng phải tính toán rất kỹ để số tiền mọi người quyên góp được sử dụng đúng nơi, đúng mục đích và trao đúng người.

Vợ chồng cô ưu tiên chọn những nơi cần tu bổ trường học, vừa giúp học sinh đảm bảo việc học vừa để bà con tận dụng trú bão lũ.

Khi được hỏi về việc có bao giờ cảm thấy gặp áp lực về chuyện phải công khai, minh bạch số tiền quyên góp được từ các mạnh thường quân không, Lý Hải từng trả lời rằng từ trước đến nay bà xã mình rất kỹ lưỡng trong việc công khai tài chính.

Ai bỏ tiền vô quỹ từ thiện của chúng tôi đều được Minh Hà chụp sao kê, báo cáo hết sau khi kết thúc chuyến đi. Việc làm đó vô tình trở thành thói quen nên chúng tôi cảm thấy rất bình thường.
Ví dụ trước đến nay, chúng tôi chưa làm mà bây giờ phải làm thì sẽ gặp áp lực, khó khăn, nhưng bây giờ công tác này chúng tôi đã quen rồi.

Quỹ Trái tim đồng cảm cũng đứng ra quyên góp để hỗ trợ người dân khó khăn được hơn 8 năm rồi nên chúng tôi cũng có nhiều kinh nghiệm để có thể làm mọi thứ rõ ràng, minh bạch.

Đặc biệt trong những ngày tháng khúc ruột miền Trung yêu thương phải gánh chịu những tổn thất nặng nề do bão lũ thiên tai gây ra, vợ chồng Lý Hải – Minh Hà đã không quản ngại vất vả, khó khăn, đích thân đến từng nhà để trao tiền từ thiện cho bà con miền Trung.

Nghĩa cử cao đẹp cùng tấm lòng thương người này của hai vợ chồng Lý Hải - Minh Hà đã nhanh chóng nhận được sự quan tâm, ủng hộ và dõi theo của dư luận cả nước.

GD-TĐ.

Bình rượu độc của Nguyễn Văn Đài



“Hội anh em dân chủ” là nhãn mác bình rượu độc của Nguyễn Văn Đài (kẻ đã đứng trước vành móng ngựa bị tòa tuyên án về tội danh tuyên truyền kích động chống phá Nhà nước Việt Nam). Bấy lâu nay, ông luật sư rởm này không sống bằng nghề chân chính mà chuyên đánh bóng danh tính bằng thuật khua môi múa mép loanh quanh mấy đống rác “chống cộng” điên cuồng. Nhìn lại các vụ việc mà Nguyễn Văn Đài lượm lặt, gán ghép, xuyên tạc đều thấy điểm chung là qui chụp bản chất chế độ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Một số từ ngữ được Nguyễn Văn Đài lải nha lải nhải như: mất tự do dân chủ, chuyên quyền độc đoán.

Đi liền với đó là sự “ca ngợi” nền “dân chủ” phương Tây. Sau khi tố cáo “nền dân chủ” ở Việt Nam, Nguyễn Văn Đài “khẩn thiết” kêu gọi “ủng hộ” bằng cách tăng số lượng truy cập trang mạng xã hội của mình để “tìm kiếm và chia sẻ thông tin” (song thực chất là để nhân đó mà kiếm tiền), thậm tệ hơn là Nguyễn Văn Đài hô hào “ai thấy cảnh đàn áp, bất công” thì ghi hình gửi cho y hoặc đăng lên mạng xã hội, cùng kết bè đảng để “đấu tranh”. Đúng là giọng điệu côn đồ chính trị.

Giữa lúc cả nước đang chung sức, đồng lòng chống dịch như chống giặc, Nguyễn Văn Đài ngồi trong phòng lạnh đóng vai “anh hùng bàn phím”, phóng đãng ngôn từ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”. Ông luật sư rởm này kết tội “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” là người “cản đường thăng tiến chính trị của Võ Văn Thưởng”. Nguyễn Văn Đài dựng ra câu chuyện “bè phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam”, câu nối những tình tiết có vẻ “thâm cung bí sử” về nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Những tình tiết chính trị bị Nguyễn Văn Đài phù phép thành câu chuyện hoang đường, biến thành bã độc hạ thủ những con chuột chính trị, nhưng chẳng thể nào đánh lừa được người dân Việt Nam yêu nước chân chính.

Thuyết âm mưu, thuyết cát cứ vùng miền trong hệ thống chính trị dưới con mắt của Nguyễn Văn Đài cực kỳ thâm hiểm. Trong mớ hỗn độn mà Nguyễn Văn Đài xâu chuỗi và kết nối đều ẩn chứa mầm độc chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trước hết là chia rẽ sự thống nhất trong Đảng, tiếp đó là chia rẽ lòng dân đối với Đảng. Luận điệu xằng bậy của Nguyễn Văn Đài góp thêm vào âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, hòng đào khoét sự hận thù chính trị trong những kẻ từng phản bội Tổ quốc, phản bội Nhân dân. Mới đây, nhân việc ông Nguyễn Thành Phong được Trung ương điều động phân công giữ chức Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Nguyễn Văn Đài bịa ra tình huống giả tưởng cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ, gán cho ông Nguyễn Thành Phong “dám chống lại quyết định của Trung ương về dùng kinh phí của thành phố mua vắc xin”. Nham hiểm hơn là Nguyễn Văn Đài khịa ra kịch bản có đảo chính ở thành phố Hồ Chí Minh, nên phải điều quân đội và công an.

Nguyễn Văn Đài lộng ngôn nói rằng, “tuyên giáo nói láo”, đúng là ngôn từ chợ búa, đâu phải trí thức. Kể từ khi Đảng ra đời, ngành Tuyên giáo là binh chủng ra đời sớm nhất, gánh vác sứ mệnh đi trước mở đường, khai thông tư tưởng, đưa chủ nghĩa Mác – Lê nin thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống chính trị của Việt Nam, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngành Tuyên giáo đã đóng vai trò quan trọng trong thức tỉnh, khích lệ tinh thần tự tin, tự lực, tự cường vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia, đổi mới đất nước, kiên định con đường đi lên CNXH. Việc nhận xét, qui chụp của Nguyễn Văn Đài không làm ảnh hưởng tiêu cực tới ngành Tuyên giáo, bởi vì ngành Tuyên giáo gánh vác trọng trách đầy khó khăn, thách thức nhưng rất vinh quang. Hồ Chí Minh đã dạy: Trong lãnh đạo, khó nhất là lãnh đạo tư tưởng. Theo lời dạy của Người, ngành Tuyên giáo đang là một mặt trận “không tiếng súng” trong trận chiến đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận sâu rộng trong xã hội để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống.

Trước mắt, ngành Tuyên giáo là đội quân chủ lực trong tuyên truyền phòng, chống đại dịch Covid-19, sớm đưa đất nước trở lại cuộc sống bình thường mới. Nhân dân ta vốn có truyền thống giàu lòng yêu nước, thương nòi, một lòng tin yêu theo Đảng, theo Bác Hồ, chung sức đồng lòng dựng xây chế độ mới của dân, do dân, vì dân. Nên, bình rượu độc của Nguyễn Văn Đài cũng chỉ phỉnh lừa được vài đám ma men chính trị.
TTN.

Họ đang đánh mạnh vào nền tảng tư tưởng của Đảng và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta


Thời gian gần đây, những người khác chính kiến viết hàng loạt bài trên mạng, nhiều đến nỗi đọc không xuể, mang tính khiêu khích, đánh mạnh vào nền tảng tư tưởng của Đảng và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Nhân đất nước đang gặp khó khăn bởi dịch bệnh Covid-19, nhất là virút Delta, lây lan rất mạnh, số người lây nhiễm và số người chết tăng nhiều, họ “mượn gió bẻ măng” viết nhiều bài đánh mạnh vào nền tảng tư tưởng của Đảng và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cho rằng, đó là hậu quả dẫn đến Covid-19. Còn chúng tôi, những người viết phản bác lại những quan điểm sai trái, họ gọi đó là “bọn bồi bút sắc sảo” và “bọn trí thức tay sai, ăn bám”.
Một là: Họ đánh mạnh vào nền tảng tư tưởng của Đảng thể hiện ở những bài viết công kích V.I.Lênin và chủ nghĩa Mác – Lênin, chia rẽ chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin, đề cao chủ nghĩa Mác một cách giả tạo và hạ thấp chủ nghĩa Lênin. Họ cho rằng, tư tưởng của Lênin “chỉ được tung hô ở những nước có dân trí thấp thôi, và đặc biệt là phải có kèm theo chỉ số nhân quyền thấp, ví như quyền tự do ngôn luận chẳng hạn”.
Họ không biết V.I.Lênin là vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Người đã đưa ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!”.
V.I.Lênin là người không bảo thủ khi ông biết xem xét một số đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản không còn phù hợp và đề ra chính sách kinh tế mới (NEP), khẳng định chính sách kinh tế mới này sẽ làm nảy nở nước Nga xã hội chủ nghĩa.
Họ hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng, Hồ Chí Minh không có tư tưởng, chỉ là người hoạt động thực tiễn. Họ không biết rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là giá trị văn hóa – chính trị – tinh thần của nhân dân ta, là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, đó là tư tưởng đấu tranh để thoát khỏi sự áp bức, bóc lột, bất công xã hội; tư tưởng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa; dân tộc gắn với giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Trên tinh thần đó, “tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.1.
Hai là: Về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, họ phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho rằng, chỉ có kinh tế thị trường, chứ không có kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Họ không biết rằng, khái niệm “kinh tế thị trường” là thành quả lý luận kinh tế chung của nhân loại, trở thành văn hóa – kinh tế. Đó là toàn bộ những quan hệ kinh tế hình thành trong lĩnh vực trao đổi về tiêu thụ hàng hóa. Là một phạm trù của quan hệ hàng hóa – tiền tệ, kinh tế thị trường là cái vốn có của các hình thái kinh tế – xã hội. Quan hệ sản xuất chiếm địa vị thống trị của một phương thức sản xuất cụ thể, nhân tố quyết định sự phát triển của kinh tế thị trường. Việt Nam thêm yếu tố “định hướng xã hội chủ nghĩa”, thành “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây cũng là đặc điểm phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ mới.
Họ không biết rằng, “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”2.
Họ không biết rằng, với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường cần nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những vấn đề lý luận – thực tiễn quan trọng của thời kỳ đổi mới. Đây cũng là đặc điểm của Việt Nam trong tiến trình xây dựng đất nước ở thời kỳ quá độ. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở mục tiêu phấn đấu của toàn xã hội là dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, cải thiện bộ mặt xã hội; phát triển một nền kinh tế đa sở hữu, nhiều thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân,… trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế; hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, tiến tới đủ sức cạnh tranh với các nền kinh tế lớn trên thế giới; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền sao cho phù hợp với đặc điểm của Việt Nam; kinh tế Việt Nam phải có mối liên hệ hội nhập với kinh tế thế giới, độc lập trong đa dạng, quan hệ trong nhiều chiều. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh lành mạnh, tạo thành những mắt xích quan trọng hợp thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đa dạng hóa và nâng cao tính chủ động của các chủ thể làm kinh tế.
Họ không biết rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường còn thể hiện ở các chính sách xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng; phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa yêu nước trong thời kỳ mới; bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước. Xây dựng cộng đồng Việt Nam trở thành cộng đồng văn minh, văn hóa, đạo đức, có lối sống lành mạnh, tất cả đều sống trong tình cảm mến thương, chan hòa.
Họ không biết rằng, định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường đòi hỏi kinh tế Việt Nam phải nâng lên tầm vóc kinh tế tri thức, phải tạo ra thế mạnh của đất nước, tiềm năng dồi dào, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đại hội XIII của Đảng (2021) xác định đường lối chiến lược kinh tế của Đảng là: “Đổi mới mạnh mẽ và có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đẩy đủ, hiện đại, hội nhập”3. Văn kiện Đại hội XIII còn xác định: Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ. Phát triển thị trường trong sản xuất hàng hóa để thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực. Phát triển thị trường, hàng hóa, dịch vụ theo các phương thức tổ chức, giao dịch văn minh, hiện đại, thương mại điện tử. Phát triển đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm,… trên nền tảng công nghệ số với kết cấu hạ tầng, công nghệ và phương thức giao dịch hiện đại. Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ. Phát triển và quản lý mạnh mẽ thị trường bất động sản và thị trường quyền sử dụng đất. Phát triển thị trường lao động linh hoạt gắn liền với cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội và xã hội nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường. Xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.
Trên đây là những nội dung cơ bản của chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là chính sách đúng đắn nhất để phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay, nó phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng và chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhất định bị dư luận xã hội lên án.

Đ ĐV.
——
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,, Hà Nội, 2021, tr. 33.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 23.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật,, Hà Nội, 2021, tr. 43.

Phó Tổng thống Mỹ không gặp các nhà chống Cộng

Loa Phường

Ngày 25/08/2021, Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đã có chuyến thăm Việt Nam. Nhân đó, từ hồi đầu tháng, một số tổ chức chống nhà nước Việt Nam đã viết thư gửi bà Harris, để kêu gọi bà lên tiếng về việc nhà nước bắt người của họ. Khi bà Harris nói về chủ đề này trong chuyến thăm, họ đã ăn mừng và cho rằng chiến dịch vận động của mình đã thắng lợi. Nhưng có thật thế không?


Nếu nhìn cận cảnh hơn, ta sẽ thấy phát ngôn của bà Harris chỉ nhằm mục đích vỗ yên nhóm cử tri người Mỹ gốc Việt, cùng bộ phận dư luận đang chờ cơ hội để công kích chính sách trong vấn đề nhân quyền của chính quyền Biden. Đó chỉ là một lời nói suông, không kèm theo bất cứ chương trình hành động lâu dài nào để cử tri theo dõi tiến độ. Trong khi đó, các hành động thực tế cho thấy chính quyền Biden đã lạnh nhạt với giới chống Cộng Việt Nam hơn nhiều so với chính quyền Obama. Nếu Obama thân chinh gặp giới chống Cộng trong chuyến thăm Việt Nam năm 2016, thì Harris không mời bất cứ một nhà chống Cộng nào đến cuộc gặp các đại diện của xã hội dân sự Việt Nam. Hình như chính quyền Biden đã đuổi các nhà chống Cộng ra khỏi mâm cỗ, và an ủi họ bằng vài lời lịch sự.

Bà Harris đang gây áp lực lên Việt Nam trong vấn đề nhân quyền bằng cách nào? Bằng cách tặng Việt Nam 1 triệu liều vaccine ngừa nCoV? Bằng cách đặt văn phòng CDC Đông Nam Á tại Hà Nội? Hay bằng cách thuê 3,2 ha đất trong vòng 99 năm để xây một Đại Sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỉ USD? Hình như cả hai chính đảng lớn của Mỹ đều đang trở thành bạn tốt của nhà nước Việt Nam, trong khi giới chống Cộng bận đánh nhau đến tan đàn xẻ nghé khi bàn xem đảng nào sẽ giúp họ “lật đổ Cộng sản”.

Cả hai đảng lớn của Mỹ chỉ coi nhân quyền như tầm bình phong để tranh giành quyền lực, lợi nhuận và ảnh hưởng. Trong mắt họ, các nhà hoạt động nhân quyền chỉ là những con tốt để dùng khi này và vứt bỏ khi khác. Khi Mỹ đang bỏ rơi vấn đề nhân quyền ở Hong Kong, Myanmar, và giờ đây là Afghanistan, thì các nhà chống Cộng người Việt thật ngây thơ nếu cho rằng  Mỹ sẽ thương xót họ. Nếu thật sự có chút lý tưởng về độc lập và tự do, thì các nhà chống Cộng nên học cách tự nuôi mình, thay vì tiếp tục dựa dẫm Mỹ.

Đảng Việt Tân kêu gọi biết ơn nước Mỹ

Loa Phường


Trong chuyến thăm Việt Nam hôm 25/08/2021, Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đã có nhiều động thái nhằm tăng cường quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Số này bao gồm việc tặng Việt Nam 1 triệu liều vaccine ngừa nCoV, việc đặt văn phòng CDC Đông Nam Á tại Hà Nội, việc thuê 3,2 ha đất trong vòng 99 năm để xây một Đại Sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỉ USD, và việc đề xuất tặng Việt Nam thêm tàu tuần tra đã qua sử dụng để làm tàu cảnh sát biển. Theo lời nhiều nhà bình luận, những động thái này nằm trong nỗ lực của Mỹ nhằm tìm kiếm thêm đồng minh trong khu vực Đông Nam Á, để đương đầu với Trung Quốc trên Biển Đông. Trong cuộc gặp với Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, bà Harris cũng phát biểu rằng:

“Chúng ta cần tìm cách gây áp lực, tăng sức ép… buộc Bắc Kinh tuân thủ Công ước Liên Hệp Quốc về Luật Biển, và thách thức các hành vi bắt nạt và yêu sách hàng hải thái quá của họ.”

Ngay sau phát biểu này của bà Harris, fanpage của đảng Việt Tân đã đăng một bài viết mang tên “Đảng Cộng sản Việt Nam vô ơn trước nghĩa cử cao đẹp của Hoa Kỳ”. Biểu hiện “vô ơn” mà bài viết đề cập là một phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong cuộc gặp Đại sứ Trung Quốc hôm 24/08. Ông Chính nói rằng Việt Nam không liên minh liên kết với nước này để chống lại nước khác, “không ngả theo nước này để chống nước khác”:



Theo tôi, bài viết của Việt Tân ngớ ngẩn trên ba điểm.

Thứ nhất, khi gặp Đại sứ Trung Quốc, ông Phạm Minh Chính chỉ nhắc lại một đường lối đối ngoại mà Việt Nam ghi trong các sách trắng quốc phòng từ nhiều năm nay. Như nội dung Sách trắng Quốc phòng năm 2019 khẳng định, đường lối này không hề ngăn cản Việt Nam phối hợp với các nước khác để bảo vệ chủ quyền quốc gia khi tình thế đòi hỏi. Nói cách khác, nó không hề ngăn cản Việt Nam phối hợp với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á trong việc bảo vệ hòa bình trong khu vực và chủ quyền lãnh hải của Việt Nam.

Thứ hai, phát biểu này được ông Chính đưa ra hôm 24/08, tức một ngày trước chuyến thăm của bà Harris. Chẳng lẽ người ta chưa tặng quà mình đã phải biết ơn? Những người nghĩ thế đúng là có thần kinh không bình thường.

Thứ ba, quan hệ giữa các quốc gia độc lập là quan hệ đối tác ngang hàng, có vay có trả, chứ không phải là quan hệ giữa đế quốc trung tâm với các nước chư hầu chịu ơn mưa móc. Bắt Việt Nam Cộng hòa biết ơn Mỹ thì còn hợp lý, chứ bắt nước Việt Nam hiện tại biết ơn Mỹ thì người ta cười cho. Đã nhân danh tự do dân chủ, mà vẫn còn mang tâm lý chư hầu như vật thì thật là buồn cười.

BẮT BÙI VĂN THUẬN-CÁI KẾT TẤT YẾU

Viễn


Theo thông tin từ chính các nhà “dân chủ” thì ngày hôm qua Công an tỉnh Thanh Hóa đã tiến hành khởi tố bị can và bắt Bùi Văn Thuận để điều tra về hành vi theo Điều 117 Bộ luật hình sự.

Thông tin này không khiến Viễn tôi và nhiều người ngạc nhiên bởi với một kẻ trẻ mà chống phá điên cuồng, thách thức pháp luật như Bùi Văn Thuận thì sớm muộn gì cũng sẽ phải trả giá trước pháp luật.

Bùi Văn Thuận nguyên là một thành viên của Hội anh em dân chủ do Nguyễn Văn Đài cầm đầu. Đáng lẽ sau khi các đối tượng cốt cán như Nguyễn Văn Đài, Phạm Văn Trội, Trương Minh Đức… bị bắt thì Bùi Văn Thuận phải biết cảnh tỉnh, tự giác chấm dứt các hành vi vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, quay đầu là bờ. Thế nhưng, Thuận vẫn lao vào con đường chống đối.

Không chỉ tham gia tổ chức Hội an hem dân chủ, sau khi hội này bị xóa sổ, Bùi Văn Thuận lại tham gia một hội nhóm chống đối khác đó là Nhóm Nghiên cứu pháp chế do Nguyễn Vũ Bình, Lê Anh Hùng cầm đầu.

Vào đọc trang facebook cả Bùi Văn Thuận mới thấy anh ta bị nhồi sọ và chuyển hóa tư tưởng như thế nào.

Bùi Văn Thuận lập nick, lập fanpage và tự cho mình là “cha già dân tộc”, với rất nhiều thông tin, hình ảnh, bài viết có nội dung phỉ báng lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng như tuyên truyền chống Nhà nước cực đoan.

Những hành vi điên cuồng của Bùi Văn Thuận đã được anh em Công an cảnh báo, nhắc nhở nhiều lần nhưng Thuận vẫn chứng nào tật nấy.

Đi đêm lắm có ngày gặp ma, việc Thuận bị bắt, khởi tố là tất yếu.

Đáng lưu ý thêm là sau khi Thuận bị bắt, các nhà “dân chủ” đồng đảng của Thuận còn viết bài cho biết anh ta tuyên bố “không nhận tội, không xin ân xá để được hưởng lượng khoan hồng; không xin đi tị nạn chính trị ở nước ngoài”…

Quả đúng là nực cười và ảo tưởng. Riêng đợt này thì ngữ như Bùi Văn Thuận chuẩn bị mà đối phó với các bản án nghiêm khắc của pháp luật chứ đã ai cho anh ta khoan hồng với đi nước ngoài đâu mà đã tuyên với bố.

Chuẩn bị bóc lịch thâm niên đi em ơi.

Thông tin chính thức vụ Bí thư phường to tiếng với tổ trưởng liên ngành công an Vũng Tàu

Thành ủy Vũng Tàu đề nghị Công an vào cuộc, xử lý nghiêm minh các đối tượng tung tài liệu, clip vụ việc này lên mạng xã hội.

Bí thư, kiêm chủ tịch phường chỉ đạo kiểm tra, xử lý đội kiểm tra liên ngành Công an Vũng Tàu

Sáng 30/8, Thành uỷ Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức họp báo cung cấp thông tin vụ nữ Bí thư kiêm Chủ tịch UBND phường 4, yêu cầu kiểm tra và lập biên bản một số thành viên trong tổ tuần tra giao thông Công an TP Vũng Tàu khi đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát dịch dịch bệnh COVID-19 trên địa bàn. Vụ việc được đăng tải trên mạng xã hội gây bức xúc dư luận.

Ông Trần Đình Khoa, Bí thư Thành uỷ TP Vũng Tàu thông tin, sáng 27/8, tổ tuần tra về công tác phòng chống dịch thực hiện nhiệm vụ trên một số tuyến đường, trong kế hoạch có thành viên của Ban quản lý các khu du lịch TP Vũng Tàu hỗ trợ (lực lượng áo trắng trong clip)

Lúc này, bà Trần Thị Bích Vân, Bí thư, kiêm Chủ tịch UBND phường 4, trong quá trình kiểm tra công tác phòng chống dịch, khi đi qua chốt kiểm soát thì được yêu cầu dừng lại xuất trình giấy đi đường. Bà Vân cho biết mình là Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 phường 4, nhưng không mang theo Quyết định thành lập Ban chỉ đạo. Sau đó, giữa hai bên xảy ra tranh luận, tuy nhiên, ông Chu Văn Khánh, Tổ trưởng tổ kiểm soát liên ngành Công an TP Vũng Tàu đã đồng ý để bà Vân tiếp tục tuần tra, kiểm soát dịch.

Đến chiều 27/8, bà Vân cùng tổ công tác làm nhiệm vụ kiểm tra việc gỡ bỏ phong toả tại một địa điểm của phường, đây cũng là nơi tổ của ông Khánh đang làm nhiệm vụ. Bà Vân yêu cầu kiểm tra 2 thành viên của Ban quản lý các khu du lịch (là thành viên tổ kiểm tra liên ngành công an TP Vũng Tàu), sau đó đề nghị lập biên bản 2 người này vì lý do không có giấy đi đường.

Cho rằng việc kiểm tra này không hợp lý, với nhiệm vụ là tổ trưởng, ông Khánh yêu cầu bà Vân nêu lý do lập biên bản, cả 2 tranh luận và to tiếng. Lúc này, một thành viên trong tổ tuần tra thuộc Ban quản lý các khu du lịch đã quay clip, sau đó đăng tải lên mạng xã hội.

Bí thư TP Vũng Tàu Trần Đình Khoa cung cấp thông tin cho báo chí

Về vụ việc này, ông Trần Đình Khoa, Bí thư Thành ủy Vũng Tàu cho rằng, do việc nhận định, ứng xử thiếu kiềm chế giữa 2 bên, thái độ thiếu chuyên nghiệp, không biết lắng nghe, gây nên hệ lụy không đáng có, dù cả hai phía đều làm đúng nhiệm vụ của mình.

"Qua vụ việc này chúng tôi sẽ củng cố lại kỹ năng ứng xử của toàn bộ cán bộ, công chức của thành phố; siết chặt toàn bộ việc cung cấp thông tin chính thống liên quan đến công vụ lên mạng xã hội. Tất cả tài liệu, clip phát tán trên mạng xã hội sẽ đề nghị Công an vào cuộc, xử lý nghiêm minh bằng cách đưa ra khỏi đội ngũ tất cả những cán bộ như vậy", ông Trần Đình Khoa nhấn mạnh. 

* Gia Khang/VOV-TPHCM

Dự báo Fulbright’ và sự liêm chính trong khoa học

Vào đầu tháng 7, khi tình hình dịch bệnh ở TP HCM đang có dấu hiệu phức tạp, với số ca nhiễm trong cộng đồng liên tục tăng cao, một thông tin đã được nhiều báo chí đăng tải, đó là 2 nhóm nghiên cứu của Đại học Fulbright và nhóm nghiên cứu Tech4Covid dự báo dịch đã gần đạt đỉnh vào cuối tháng 6, đầu tháng 7, và sẽ kết thúc vào cuối tháng 8. 



Diễn biến của dịch bệnh suốt gần 2 tháng qua đã chứng minh dự báo này sai một cách trầm trọng, nó sai tới mức thậm chí không thể coi là một dự báo đúng nghĩa theo tiêu chuẩn khoa học, dù cố hạ thấp tiêu chuẩn đó tới đâu. 

Cụ thể, nhóm Fulbright dự báo tới đầu tháng 8 chỉ còn rải rác vài ca/ngày nếu thực hiện nghiêm chỉ thị 10. Sau gần 1 tháng của deadline, tới ngày 24 tháng 8, số ca nhiễm ở TP HCM vẫn ở mức 4.627 ca, dù đã liên tiếp tăng mức siết chặt các biện pháp từ chỉ thị 16, giờ giới nghiêm, thậm chí đưa quân đội vào hỗ trợ chống dịch. 

Đáng chú ý, sau đó, tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh – người đứng đầu nhóm Fulbright, đã lên Facebook giải thích rằng đây không phải dự báo của Fulbright, mà là của 2 nhóm độc lập của 2 đại học bên Úc. Tuy nhiên ngay trên fanpage của Đại học Fulbright vào ngày 2/7, đơn vị này thừa nhận đây chính là nghiên cứu của nhóm Fulbright (bài viết này hiện đã bị xoá khỏi fanpage Fulbright, nhưng vẫn còn lưu trên Google cache và có thể xem lại bằng vài thủ thuật đơn giản). 

Sẽ không phải vấn đề to tát gì, nếu tiến sĩ Tự Anh không nằm trong Tổ tư vấn chính sách phòng dịch, chống dịch của TP HCM với vai trò tổ trưởng. Trong 8 thành viên của tổ tư vấn, có tới 3 người đến từ Đại học Fulbright. “Dự báo Fulbright” có lẽ không chỉ đơn thuần là một thảm hoạ khoa học đáng hổ thẹn, mà nó còn liên quan tới sự liêm chính đối với những người làm khoa học, vì với sự bất nhất trong các tuyên bố trên Facebook, thì hoặc tiến sĩ Tự Anh, hoặc trường Fulbright, đã nói sai sự thật. 

Tất nhiên có thể lý giải cho sự sai lệch khủng khiếp của kết quả dự báo là do dữ liệu đầu vào thiếu chính xác vì hạn chế trong xét nghiệm hoặc chậm cập nhật lên hệ thống, tuy nhiên khoa học thống kê từ khi ra đời đã tính tới sự bất cập này. Theo quan điểm tần số luận của Quetelet, các chênh lệch đơn giản được xử lý như là sai số. Thống kê hiện đại là kết quả của sự hợp nhất những thực tiễn khoa học và hành chính, mà các mô hình dự báo chính là những phái sinh của ngành xác suất thống kê. Các mô hình đều có độ nhiễu, và độ nhiễu đó trong tập dữ liệu quan sát, chính là một phần của khoa học dự báo. 

Trong một bài thi trắc nghiệm, có các thuật toán để loại bỏ những tờ được “khoanh bừa”, trong một cuộc điều tra, có những quy tắc rất khắt khe trong chọn mẫu để đảm bảo tính khách quan. Trong khoa học dữ liệu, xử lý các điểm ngoại lai (outliners) là bước bắt buộc trước khi chạy bất kỳ mô hình nào trên SPSS. 

Người làm những công việc liên quan tới số liệu, thống kê có một câu nằm lòng: “Garbage in means garbage out”, cho số liệu “rác” vào đầu vào thì sẽ nhận “rác” ở đầu ra. Vì thế xử lý số liệu (hay làm sạch data) là công việc đầu tiên phải làm, và nó hoàn toàn là trách nhiệm của người dùng số liệu để đưa ra các mô hình dự báo. 

Không thể đổ lỗi cho số liệu kém khả tín để biện minh cho việc dự báo bị sai lệch, điều này cũng giống như một đầu bếp đổ cho món bít tết có mùi lạ vì thịt bò do chính tay mình chọn không được tươi ngon. Là người đứng đầu một trường đại học về Hành chính công, sẽ rất ngạc nhiên nếu tiến sĩ Tự Anh cùng nhóm nghiên cứu của mình không biết về những điều này. 

Công cụ để dự báo dịch bệnh là các mô hình toán dịch tễ, nó nhất quán từ khi Bernoulli đề xuất năm 1776 cho đến nay, các mô hình cải tiến đều phải dựa trên nền tảng đó. 

Từ Mỹ và châu Âu, cho đến Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore hay nhiều quốc gia khác, khi dự báo dịch đều xây dựng các mô hình toán học rất hiện đại chạy trên máy tính, nhưng vẫn phải dựa vào mô hình SIR kinh điển, chưa một nhà khoa học nào thoát ra khỏi công cụ này. 

Dự báo có thể đúng, có thể sai, nhưng cơ sở khoa học để dự báo thì bắt buộc phải theo nguyên tắc, đến thời điểm hiện tại chưa có phương pháp nào khác. 

Không biết nhóm tư vấn đã sử dụng thuật toán nào, vì đọc các báo cáo không hề thấy toát lên có sử dụng thuật toán của mô hình SIR, không thấy các nội dung mang tính dịch tễ; mà chỉ thấy vài biểu đồ và đồ thị của hàm số tuyến tính đơn giản. Với những gì đã thể hiện ở báo cáo của Fulbright, thì người có chút kiến thức toán và chút kiến thức dịch tễ học, ngay từ đầu, không khó để nhận ra dự báo sẽ xảy ra sai sót lớn, thậm chí là nghiêm trọng. 

Bất kể viện lý do gì, nhóm nghiên cứu Fulbright đã thất bại hoàn toàn trong việc dự báo một vấn đề sinh tử đối với người dân TP HCM, và ít nhất, họ nợ người dân thành phố này một lời xin lỗi. Chúng ta đều biết không thể thắng cuộc chiến này mà không có sự giúp sức của khoa học, nhưng cần phải làm gì, khi khoa học thoát ly khỏi sự độc lập, duy lý, phi vụ lợi và liêm chính, thậm chí đôi khi, có kết quả dự báo sai với thực tế hơn 1000 lần? 

* Theo Trung Thứ/Ngày Nay

Pfizer lên tiếng trước thông tin một doanh nghiệp VN nhập 15 triệu liều vắc xin

Sau thông tin một doanh nghiệp tại Đồng Nai đã đàm phán và ký hợp đồng với Pfizer để nhập 15 triệu liều vắc xin COVID-19 của hãng này về Việt Nam vào đầu tháng 9, đại diện Pfizer đã lên tiếng.



Trong trao đổi qua email với phóng viên Tiền Phong trưa 30/8, đại diện Pfizer cho biết, hiện tại trong giai đoạn đại dịch này, Pfizer chỉ cung cấp vắc xin COVID-19 Pfizer-BioNTech cho các chính phủ và các tổ chức lớn toàn cầu. “Chúng tôi hiểu nhu cầu cấp thiết của nhiều người muốn được tiêm phòng càng sớm càng tốt, nhưng vắc xin chỉ được thông qua chính phủ, đó là cách tốt nhất để phân phối vắc xin một cách công bằng và bình đẳng cho người dân của các quốc gia. 

Theo các thỏa thuận cung cấp vắc xin với Pfizer, các chính phủ sẽ chịu trách nhiệm quản lý việc phân bổ và phân phối vắc xin tại quốc gia của họ” - đại diện Pfizer cho hay. Trả lời câu hỏi của phóng viên về viêc doanh nghiệp tư nhân, mà cụ thể là Công ty Donacoop ở Đồng Nai đã làm việc với Pfizer để nhập 15 triệu liều vắc xin về trong đầu tháng 9, đại diện Pfizer cho rằng: “Chúng tôi xin khẳng định lại rằng không có vắc xin nào được cung cấp qua trung gian tại thời điểm này. Hiện tại, không có nhà phân phối tư nhân nào được ủy quyền cho vắc xin của chúng tôi trên toàn thế giới”. 

Trước đó, ngày 16/6, tại buổi tập huấn trực tuyến phân biệt vắc xin thật - giả giữa cơ quan an ninh Mỹ, hãng Pfizer và Tổng cục Quản lý thị trường Việt Nam, ông John Paul Pullicino - đại diện hãng dược Pfizer cho biết, vắc xin Pfizer cung cấp trực tiếp qua thoả thuận song phương với chính phủ, không có nguồn tư nhân nào là hợp pháp. 

Ông John Paul Pullicino cũng nhấn mạnh rằng, hiện hãng đảm bảo cung cấp vắc xin thông qua nguồn hợp pháp và được phê duyệt từ chính phủ các nước. Gần đây, hãng ghi nhận nhiều vắc xin Pfizer giả trên thế giới. Tại Việt Nam, hãng cũng ghi nhận trường hợp một số cá nhân tự nhận mình có quyền tiếp cận nguồn vắc xin Pfizer. "Chúng tôi khẳng định vắc xin Pfizer trên toàn cầu chỉ cung cấp trực tiếp thông qua các thoả thuận song phương với các chính phủ. Đến nay, không có một nguồn vắc xin tư nhân nào là hợp pháp", ông John Paul Pullicino khẳng định lại. 

Trong khi đó, bà Vanessa Piepenburg - đại diện Đội an ninh toàn cầu của Pfizer tại Singapore cho biết, hiện vắc xin Pfizer chưa được bán thương mại, bất kỳ các giao dịch thương mại nào đều là sản phẩm giả mạo hoặc không chính hãng.

Cảnh giác: BBC đang cố gắng làm lu mờ vai trò cuả quân đội trong việc giúp TP HCM chống dịch


Hôm nay BBC viết: "Đội quân giao hàng chuyên nghiệp đã được phép tái xuất để giải bài toán cung cấp thực phẩm, hàng hóa cho người dân TP HCM, sau khi quân đội và các lực lượng của chính quyền không cáng đáng nổi. Việc triển khai quân đội, công an đi chợ hộ và phát túi an sinh tới từng nhà tại TP HCM tới giờ đã cho thấy không đáp ứng được nhu cầu của hàng triệu người dân". 

Thậm chí BBC còn "tổ lái" bằng cách "nhét chữ vào mồm" ai đó tên là Lê Minh Tâm, rằng "Có thể chính quyền triển khai quân đội nhằm vào mục đích chính là phòng ngừa bất ổn, vì trong khủng hoảng, nguy cơ người dân nổi dậy do thiếu ăn, do việc phát tiền cứu trợ không công bằng, do thất vọng vì không được cứu chữa là rất lớn". 

Như vậy từ chuyện Shipper giao hàng, BBC đã lươn lẹo dẫn dắt sang thành chuyện quân đội đến TPHCM để phòng ngừa người dân nổi loạn và nhân tiện bịa đặt rằng, người dân thiếu đói, xã hội không công bằng. Đó cũng là mục tiêu trường kỳ của BBC đối với Việt Nam. Điều dễ thấy là quân đội giúp TPHCM chống dịch thì nhiệm vụ chính của họ không phải và không chỉ có làm Shipper, đi chợ hộ người dân trong bối cảnh giãn cách xã hội. 

Khi nhu cầu mua sắm lương thực, thực phẩm và đồ thiết yếu của người dân là rất lớn, trong lúc lực lượng cung cấp nhu yếu phẩm cho người dân quá mỏng, quá tải thì quân đội cắt cử một lực lượng để giúp người dân thỏa mãn nhu cầu. Đó là quyết định đúng đắn, nhân văn và đặc biệt an toàn. Đội ngũ ngày kỷ luật cao, nhiệt tình và chịu kiểm soát y tế thường xuyên liên tục, khác hẳn với đội ngũ Shipper tự do, luôn có xu hướng thoát khỏi sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. 

Những đánh giá của người dân trên báo chí và mạng xã hội những ngày qua là minh chứng rõ ràng về lợi ích khi có quân đội tham gia đi chợ hộ người dân. Rộng ra một chút, nhiều người nghĩ rằng, quân đội có mặt ở TPHCM chỉ là để đi chợ hộ người dân, và nay "việc sử dụng quân đội đi chợ hộ đã phá sản vì không thể cáng đáng". Đó là suy nghĩ nông cạn và sai lầm. Với ưu thế về số lượng, chất lượng, đặc biệt là kỷ luật, quân đội hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu của người dân trong việc mua sắm hàng hóa nhu yếu phẩm. 

Tuy nhiên, việc chính của quân đội khi đến TPHCM không phải là làm Shipper. Quân đội có mặt ở TPHCM là để chống dịch, giúp dân. Sơ bộ có thể thấy, quân đội vào TPHCM để: 

(1) Giúp cho hệ thống Y tế của Thành phố vốn đã bị quá tải. Từ khử khuẩn môi trường, lấy mẫu, xét nghiệm, hướng dẫn người dân phòng tránh dịch, điều trị bệnh nhân Covid-19 và điều trị cả các bệnh khác. Một bộ phận khác giúp Thành phố quản lý các khu cách ly tập trung, tham gia vận hành các bệnh viện dã chiến, bệnh xá lưu động, các tổ cấp cứu...; 

(2) Tham gia trực chốt kiểm soát dịch bệnh tại các đầu mối giao thông, tham gia điều hành giao thông, giúp công an đảm bảo an ninh trật tự và giảm tải cho lực lượng công an cũng như lực lượng dân phòng tại chỗ; 

(3) Tham gia vận chuyển thiết bị máy móc, nhu yếu phẩm phục vụ y tế và phục vụ dân sinh; 

(4) Mua hàng hóa, nhu yếu phẩm và vận chuyển giúp người dân giống như một shipper. 

Như vậy, việc vận chuyển nhu yếu phẩm cho người dân chỉ là một trong nhiều công việc mà quân đội đang đảm nhận tại TPHCM và nếu có thêm lực lượng Shipper tại chỗ thì những công việc còn lại vẫn rất cần quân đội giúp đỡ. 

Nói như thế để thấy BBC đang cố tình dẫn dắt dư luận hiểu sai về chính sách phòng chống dịch của TPHCM và làm lu mờ của quân đội trong việc này. Nhưng BBC dù cố gằng đến mấy cũng sẽ thất bại bởi những hình ảnh đẹp đẽ về người lính cụ Hồ đã in đậm và sẽ vẫn mãi đẹp đẽ trong lòng người dân Việt Nam.

Phòng chống dịch covid - 19: Rận chủ mượn đủ cớ để tuyên truyền xuyên tạc

Biển Xanh

 

Trong những ngày qua có một bức ảnh đã được đám dân chủ và một số đài báo phản động sử dụng để thổi phồng về tình tình dịch bệnh covid tại Thành phố Hồ Chí Minh và tiếp tục bôi xấu các chính sách an sinh xã hội, xuyên tạc để chửi bới cơ quan chức năng của đám này. Bức ảnh đó là hình ảnh một người đàn ông vô gia cư chết trên xe lăn ngoài đường và người vợ quỳ bên chân chồng, tay cầm chiếc bánh bông lan mà ngậm ngùi gục xuống. Người phụ nữ đó mất đi chỗ dựa tinh thần, không bao giờ có thể lấy lại được nữa.




Hình ảnh đó là khoảnh khắc được trích trong video xuất hiện trên mạng xã hội được đăng tải thu hút hơn 100 nghìn lượt yêu thích và hàng chục nghìn bình luận và chia sẻ trong vài giờ đồng hồ. Có lẽ, cũng vì bức ảnh đó được cộng đồng mạng quan tâm nên cái lũ dân chủ bợm” triệt để lợi dụng, lợi dụng sự mất mát, sự đau thương của của vợ chồng cô chú kia, đám dận lại cố “bới móc” được sự vô trách nhiệm của chính quyền, tìm mọi cách xuyên tạc chống phá, nhạo báng mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong công cuộc chống dịch covid-19 của Chính phủ, chúng lại dùng biện pháp so sánh chính sách an sinh xã hội của các nước và tìm mọi cách “dìm” Việt Nam xuống bờ vực của sự kém cỏi. Đang lúc dịch bệnh vovid-19 hoành hành, tác oai tác quái gây bao thiệt hại cho cuộc sống của người dân, người dân không đủ ăn thì chúng lại miêu tả quan chức Việt Nam sống đời sống vương giả, “hưởng thụ trên xương máu đồng bào” bỏ mặc người dân sống chết… để kích động tư tưởng người dân, gây mất niềm tin của người dân đối với chính quyền, gây rối tình hình cũng như các nỗ lực phòng dịch covid của chính quyền và nhân dân TP Hồ Chí Minh hiện giờ.

Từ một hình ảnh mà đám này lại có thể tưởng tượng vẽ ra đủ kịch bản tuyên truyền xuyên tạc chính quyền như vậy. Qua tìm hiểu, nhân vật trong bức ảnh kia là hai cô chú sống lang thang trên nhiều con đường ở TP Hồ Chí Minh đông đúc, chật hẹp, bữa đói, bữa no. Họ đồng hành với nhau cả cuộc đời, chú mất trên tay vẫn cầm bịch đồ ăn mà người ta cho. Với sức khỏe già yếu và nhiều ngày không ăn uống đảm bảo, chú đã an nghỉ mãi mãi trên chiếc xe lăn để lại cô cô đơn cùng bịch bánh bông lan. Hoàn cảnh éo le của hai cô chú đó thật khiến người chứng kiến ai ai cũng đau lòng, thương xót. Đây cũng là một mặt của TP Hồ Chí Minh, đằng sau những phố xá xa hoa, ánh đèn rực rỡ vẫn còn những ngõ cụt, góc tối, những cảnh đời éo le, đây là một thực trạng của mọi xã hội, không riêng gì ở Việt Nam.

Vì vậy, việc mượn cảnh hẩm hiu của một kiếp người để nhân danh chửi chính quyền, gây tâm lý hoang mang của người dân vào chính quyền nhất là thời điểm dịch covid-19 đang có những diễn biến phức tạp, cần sự chung tay, đoàn kết, đồng lòng của cộng đồng trong công tác phòng chống dịch là việc làm có chủ đích, là một trong các chiêu trò quen thuộc của đám chống phá nhà nước kia. Mọi người hết sức cảnh giác, không nghe, không tin vào bất cứ luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của chúng, chúng chưa bao giờ từ bở cơ hội, dù là nhỏ nhất để đâm bị thóc, chọc bị gạo, xuyên tạc, chống phá mà thôi.

2021/08/30

Nhận diện thách thức an ninh biển với Đông Nam Á


Theo các học giả khu vực, có bốn thách thức với Đông Nam Á về an ninh biển: (i) Trung Quốc là nhân tố gây bất ổn chính tại Biển Đông; (ii) Đông Nam Á còn nhiều hạn chế trong năng lực biển; (iii) Đông Nam Á không có chung nhận thức về vấn đề Biển Đông; và (iv) các nước Đông Nam Á chịu sức ép từ cạnh tranh nước lớn.
Cuối tháng 6 và đầu tháng 7/2021, một số tọa đàm về an ninh biển tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã được tổ chức, trong đó có webinar “Biển Đông: Thách thức, cơ hội và triển vọng hợp tác” (của Viện Nghiên cứu quốc tế và chiến lược Malaysia (ISIS) và Đại sứ quán Mỹ tại Malaysia) và webinar “An ninh biển tại Đông Nam Á: Vấn đề, viễn cảnh và thách thức với hợp tác” (của Diễn đàn Thái Bình Dương).
Các tọa đàm quy tụ nhiều diễn giả nổi tiếng trong khu vực như Collin Koh, (Trường S. Rajaratnam, Singapore), Blake Herzinger (Diễn đàn Thái Bình Dương), Satu Limaye (Trung tâm Đông – Tây), Ivy Kwek Ai Wei (Viện Nghiên cứu phát triển xã hội Malaysia) và Shahriman Lockman (ISIS Malaysia). Nội dung nổi bật của các tọa đàm như sau:
Những thách thức về an ninh biển
Các diễn giả nêu ra một số thách thức với Đông Nam Á về an ninh biển.
Thứ nhất, các diễn giả cho rằng Trung Quốc là nhân tố gây bất ổn chính tại Biển Đông. Satu nhấn mạnh, nghĩa vụ duy trì hoà bình Biển Đông là của tất cả các nước nhưng trách nhiệm về các hành động gây bất ổn trên hết thuộc về Trung Quốc vì: (i) yêu sách Đường lưỡi bò mang tính gây hấn và không có cơ sở pháp lý; (ii) Luật hải cảnh Trung Quốc 2021 gây ra nhiều quan ngại; (iii) Trung Quốc có nhiều “hành xử hung hăng”. Chia sẻ quan điểm này, Ivy Kwek nhận định vấn đề Biển Đông tuy không mới nhưng ngày càng gặp nhiều thách thức phức tạp hơn khi Trung Quốc tăng cường thể hiện sức mạnh.
Bổ sung ý kiến trên, nhiều ý kiến đánh giá các nước ngoài Trung Quốc cũng góp phần gia tăng căng thẳng. Herzinger cho rằng Trung Quốc là nước cải tạo, quân sự hóa các thực tế trên biển và đánh bắt cá trái phép với quy mô lớn nhất nhưng những nước khác cũng tiến hành các hoạt động này. Tuy nhiên, Satu phản bác các lập luận này và cho rằng các nước yêu sách ngoài Trung Quốc được bảo vệ quyền và lợi ích trong vùng EEZ hợp pháp của mình, đều nỗ lực không làm tình hình phức tạp hơn và đều tránh gây hấn không cần thiết với Trung Quốc.
Thứ hai, Đông Nam Á còn nhiều hạn chế trong năng lực biển. Herzinger chỉ ra đặc điểm của các thách thức an ninh biển khu vực là: (i) tính liên kết cao của biển khiến các vấn đề quốc gia dễ trở thành vấn đề xuyên quốc gia, ví dụ như buôn lậu, buôn người hay cướp biển…; và (ii) các vấn đề an ninh phi truyền thống thực chất là các vấn đề truyền thống với khu vực, ví dụ như biến đổi khí hậu hay tội phạm môi trường…
Thêm vào đó, trong bối cảnh COVID-19, các nước chịu nhiều áp lực về nguồn lực hơn do phải dồn tài nguyên cho công tác kiểm soát dịch bệnh và phục hồi kinh tế. Ưu tiên này sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì hiện diện cũng như huấn luyện và hiện đại hóa các lực lượng trên biển của Đông Nam Á. Collin Koh dự đoán, do ảnh hưởng của đại dịch, việc mua bán khí tài của Đông Nam Á sẽ giảm trong thời gian tới.
Ngoài ra, Koh nhấn mạnh khác biệt về năng lực biển giữa các nước Đông Nam Á: các nước ven biển có nhiều tàu cỡ nhỏ để thực hiện các hoạt động gần bờ nhưng thường xuyên thiếu các tàu tuần dương cỡ lớn để thực hiện các nhiệm vụ chuyên biệt và ở phạm vi rộng.
Tuy nhiên, Koh cũng cảnh báo rằng truyền thông thường có cái nhìn sai lệch về năng lực của Đông Nam Á, mô tả các nước này là nhỏ bé, yếu đuối và dễ bị áp đảo. Koh cho rằng các nước Đông Nam Á thường tránh “ngoại giao loa phóng thanh” (megaphone diplomacy) nên những gì các nước làm trên thực địa thường không được phản ánh đầy đủ trên truyền thông. Nhiều nước Đông Nam Á vẫn sẵn sàng chống lại thách thức từ Trung Quốc nếu cần thiết.
Thứ ba, Đông Nam Á không có chung nhận thức về vấn đề Biển Đông. Koh cho rằng tranh chấp Biển Đông chỉ là một trong nhiều vấn đề và do đó, ASEAN chưa thống nhất về tầm quan trọng của Biển Đông. Herzinger bổ sung, Đông Nam Á không có chung đánh giá về mối đe dọa từ Trung Quốc. Do vậy, Satu nhận định ASEAN ngày càng mất đi vai trò trong quản lý tranh chấp Biển Đông và bày tỏ nghi ngại về tiến trình COC. Ivy chia sẻ quan ngại này và cho rằng ASEAN dựa vào các cơ chế tiểu đa phương để giải quyết một số vấn đề cụ thể. Theo Shahriman, COC sẽ khó đạt được kết quả thực chất nếu không tổ chức được các cuộc họp trực tiếp. Mặc dù có nhiều khác biệt, theo Koh, một điểm chung là các nước tranh chấp đều nhận thức được giá trị về chính trị nội bộ khi thúc đẩy yêu sách Biển Đông. Nhiều lãnh đạo khu vực dùng mục tiêu bảo vệ biển đảo để duy trì tính chính danh của mình và chính quyền đối với người dân.
Cuối cùng, các nước Đông Nam Á chịu sức ép từ cạnh tranh nước lớn. Ivy cho rằng sức ép một phần đến từ việc khu vực ngày càng được cộng đồng quốc tế quan tâm, đặc biệt là Mỹ. Herzinger chỉ ra rằng Mỹ có xu hướng coi tất cả các mối đe dọa về an ninh biển tại khu vực đều liên quan đến Trung Quốc trong khi thực tế không phải như vậy. Dù Mỹ tuyên bố không muốn các nước Đông Nam Á phải chọn bên nhưng việc mô tả tình hình như trên sẽ càng đẩy Đông Nam Á vào thế khó xử. Mỹ cũng khó có thể thu hút được ủng hộ từ các nước Đông Nam Á do các nước này không thể tránh khỏi mối quan hệ với Trung Quốc.
Về phía Trung Quốc, một mặt, Koh cho rằng Trung Quốc tự tin với năng lực của mình, tự cho rằng mình đã đến ngưỡng mà ASEAN sẽ không thể có hành động đáng kể nào chống lại (cách mô tả sức mạnh Đông Nam Á trên truyền thông nói trên cũng củng cố quan điểm này).
Mặt khác, theo Herzinger, Trung Quốc cũng quá thận trọng với hợp tác của Đông Nam Á với Mỹ và cho rằng quan hệ này là cần phải được đối trọng. Điều này khiến Đông Nam Á gặp khó khăn khi hợp tác với các nước ngoài khối. Đồng tình với ý kiến này, Ivy cho rằng Trung Quốc ngày càng cảm thấy bất an khi bị coi là đối thủ chiến lược của Mỹ, dẫn đến tình trạng mất lòng tin ngày càng gia tăng. Các bên do đó dễ rơi vào vòng xoáy hành động và phản ứng, nguy cơ tính toán sai lầm và có những bước đi sai trên thực địa cũng tăng theo.
Về chính sách của Malaysia tại Biển Đông
Theo Thomas Daniel, Nghiên cứu viên cao cấp của Viện ISIS, Biển Đông là một trong các vấn đề chiến lược nhưng cũng dễ tổn thương nhất của Malaysia liên quan đến biển. Malaysia cũng nhìn nhận rằng vấn đề Biển Đông đang ngày càng bị quốc tế hoá do cạnh tranh nước lớn tại vùng biển này gia tăng. Về “lằn ranh đỏ” trên Biển Đông của Malayisa, Ivy cho rằng hiện Malaysia chưa thống nhất quan điểm nội bộ và chưa có cách tiếp cận toàn Chính phủ với vấn đề này. Satu cho rằng chính sách Biển Đông của Malaysia vẫn còn là câu đố chưa có lời giải đáp, không rõ nội hàm “lằn ranh đỏ” là gì. Shahriman cho rằng, khi xuất hiện cái gọi là “lằn ranh đỏ”, nhận thức của Malaysia trong vấn đề Biển Đông sẽ thay đổi hoàn toàn. Đó có thể là khi Trung Quốc tìm cách chặn các hoạt động về dầu khí của Malayisa trên thực địa bằng vũ lực.
Shahriman cũng cho biết cạnh tranh nước lớn cũng đẩy Malaysia vào thế khó. Shahriman hiểu nội bộ Mỹ đôi lúc rất thất vọng trước cách hành xử khá nhún nhường của Malaysia trên Biển Đông và hy vọng Malaysia có thể mạnh mẽ hơn trong việc chống trả với Trung Quốc. Mỹ đã hỗ trợ quân sự cho Malaysia khoảng 230 triệu đô-la trong vòng 5 năm. Trong khi đó, Malaysia vẫn luôn phải tính đến những lợi ích trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, nhất là khi Trung Quốc gần đây hỗ trợ Malaysia trong phục hồi kinh tế sau đại dịch.
Về dầu khí, Satu nhận định đây không phải chỉ là một yếu tố trong tranh chấp: các nước yêu sách đề cao bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi hơn là tiếp cận nguồn dầu khí; Trung Quốc không cần dầu khí ở Biển Đông và sẽ ít phụ thuộc vào tài nguyên này trong tương lai, dầu khí chỉ là công cụ để khẳng định yêu sách quyền lịch sử. Tuy nhiên, Shahriman chia sẻ dầu khí luôn là ưu tiên của Malaysia.
Kiến nghị đối với các nước khu vực
Các học giả đưa ra một số đề xuất cho Đông Nam Á.
Thứ nhất, cách tiếp cận chính là tự lực tự cường. Các nước ven biển nên tiếp tục củng cố lực lượng chấp pháp, tiến hành tuần tra, coi chấp pháp biển là trách nhiệm cá nhân của nước mình, đồng thời hợp tác với các lực lượng bên ngoài ở các lĩnh vực khác gồm xây dựng năng lực và chia sẻ thông tin. Theo Ivy, Đông Nam Á nên nhấn mạnh thông điệp này để tránh tình trạng các nước lớn diễn giải hành động hay không hành động của các nước nhỏ là chọn bên.
Thứ hai, hợp tác giữa Đông Nam Á và Trung Quốc là điều cần thiết. Theo Herzinger, hải quân Trung Quốc sẽ luôn hiện diện ở khu vực bất kể tình hình chính trị và thực địa có diễn biến thế nào. Do đó, Trung Quốc và các nước khu vực cần có phương án liên lạc và điều phối hoạt động để tránh xảy ra xung đột cũng như hợp tác cùng Trung Quốc nhằm đối phó với các tình huống khẩn cấp, đặc biệt là với lực lượng hải cảnh. Ngoài ra, theo hai học giả, chính Trung Quốc cũng coi hợp tác với Đông Nam Á là điều tự nhiên bơi: (i) nếu Đông Nam Á hợp tác với Mỹ cả về kinh tế lẫn an ninh, không có lý do gì Đông Nam Á không làm điều tương tự với Trung Quốc, nhất là khi hai bên đã có sẵn nhiều kênh hợp tác về kinh tế; và (ii) Trung Quốc muốn thể hiện với thế giới rằng mình vừa kiểm soát, vừa phối hợp được với Đông Nam Á. Tuy nhiên, để hợp tác thuận lợi, hai bên phải vượt qua được trở ngại như khác biệt trong tổ chức và quy trình chỉ huy của các lực lượng cũng như khủng hoảng trên thực địa.
Riêng về COC, Herzinger cho rằng dù sẽ không được gì từ đàm phán vì Trung Quốc không tham gia theo hướng xây dựng, Đông Nam Á vẫn nên duy trì quá trình này để thể hiện rằng mình có nỗ lực hợp tác giải quyết vấn đề. Ivy nhận định, trong khi chờ đợi COC, ASEAN và Trung Quốc có thể song song xúc tiến hợp tác trong một số lĩnh vực phi truyền thống và ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường hay nghiên cứu khoa học trong khi COC hoàn tất. Tuy nhiên, Shahriman cho rằng hợp tác trong những vấn đề không nhạy cảm cũng rất khó khăn do tranh chấp và do đó, các luật sư sẽ chỉ rõ những khu vực nào các nước thể hợp tác trong từng lĩnh vực.
Thứ ba, Đông Nam Á cần mở rộng hợp tác biển với các nước trung cường. Koh gợi ý Úc và Nhật vì đây là hai nước có hiện diện lâu dài tại Đông Nam Á. Vai trò của Úc xoay quanh mảng đào tạo và chia sẻ thông tin và Koh mong rằng, trong tương lai, Úc sẽ đảm nhiệm thêm vai trò cung cấp tàu chấp pháp và tuần tra cho các nước Đông Nam Á, giống như đã làm với các đảo quốc Thái Bình Dương. Đối với Nhật, đây là nước đầu tư lâu năm cho các nước Đông Nam Á. Dù hợp tác với ai, Đông Nam Á cũng cần thiết lập phương án điều phối để tránh chồng lấn vai trò của các đối tác.
Herzinger liệt kê thêm Anh và Pháp – hai nước có lãnh thổ trong khu vực nhưng hiện diện tại Đông Nam Á vẫn còn giới hạn. Đặc biệt, Herzinger nhắc đến Nga vì: (i) Nga có lợi ích riêng trong khu vực, cục diện ở Đông Nam Á là thế ba bên Nga – Trung – Đông Nam Á; và (ii) trên thực tế, Nga không hợp tác với Trung Quốc tại Đông Nam Á nhưng vẫn cấp tàu ngầm Kilo cho Việt Nam. Tuy nhiên, Nga cố ý không chia sẻ với các nước Đông Nam Á thông tin về những gì xảy ra trong Vùng EEZ của mình – điều có lợi cho Trung Quốc.
Thứ tư, Đông Nam Á cần chống lại “chiến thuật vùng xám” của Trung Quốc. Herzinger cho rằng chiến thuật này được thiết kế để không quốc gia nào chống lại hoàn toàn được. Do đó, phương án tốt nhất là nâng cao nhận thức và minh bạch hóa những diễn biến ở Biển Đông. Các nước khu vực có thể làm điều này bằng cách thể hiện thái độ phản đối những hành động phi pháp của Trung Quốc thông qua các hành động như tham gia FONOP.
Trái lại, theo Koh, nếu lực lượng hàng hải các bên tuân theo những nguyên tắc nhất định, việc chống lại vi phạm của Trung Quốc sẽ không khó. Ngoài ra, Koh chú trọng yếu tố thực dụng, cho rằng các nước phải luôn thực thì quyền chấp pháp cho dù bên vi phạm là tàu cá hay tàu dân quân. Koh bổ sung rằng những nỗ lực chống lại chiến thuật vùng xám trên thực địa phải được hỗ trợ bởi các hoạt động ngoại giao (lên án và phản đối những hành vi vi phạm luật quốc tế) và các kênh giải quyết khủng hoảng.
Bên cạnh đó, các học giả cũng đưa ra kiến nghị cho các bên liên quan khác. Mỹ cần thay đổi cách hỗ trợ Đông Nam Á. Theo đó Mỹ cần: (i) giúp Đông Nam Á phục hồi kinh tế, giảm lệ thuộc vào Trung Quốc nhằm gửi thông điệp rằng Trung Quốc không kiểm soát được Đông Nam Á, tập trung vào kinh tế thay vì tư tưởng; (ii) thiết kế các phương án hợp tác riêng cho từng nước vì các nước có cách tiếp cận an ninh biển và năng lực biển khác nhau; (iii) không thúc đẩy NATO thứ hai ở khu vực vì Đông Nam Á không muốn điều này; và (iv) đẩy mạnh hoạt động xây dựng năng lực, đặc biệt là năng lực nhận thức biển (MDA), cho các lực lượng chấp pháp cũng như các nhóm địa phương trong khu vực.
Về Malaysia, ngoài các kiến nghị trên, Ivy cho rằng Malaysia cần một chính sách Biển Đông sáng tạo hơn, cụ thể là Malaysia không nên lo sợ tăng cường quan hệ với Mỹ. Theo Satu, việc Mỹ không thay đổi căn bản chính sách tại Biển Đông và sẽ tiếp tục sử dụng các công cụ pháp lý, ngoại giao và hỗ trợ năng lực cho các nước là nhân tố quan trọng mà các nước khu vực, bao gồm Malaysia, cần xem xét trong quan hệ song phương. Trên thực địa, hai bên có thể thực hiện tuần tra, tập trận song – đa phương. Tổng thể quan hệ Mỹ – Malaysia cũng cần được củng cố, dựa trên nền tảng đối tác chiến lược toàn diện đã được thiết lập.
Một vài suy ngẫm
Các học giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác với Trung Quốc. Do đó, nếu muốn được Đông Nam Á ủng hộ, Mỹ cần tránh mô tả hợp tác với Mỹ đồng nghĩa với việc chống lại Trung Quốc, nhấn mạnh hợp tác riêng với từng nước thay vì gộp chung các nước Đông Nam Á vào cùng một khuôn khổ đối trọng với Trung Quốc. Điều này cũng thể hiện mức độ trân trọng và hiểu biết của Mỹ về khu vực.
Ngoài ra, việc tăng cường hợp tác giữa Đông Nam Á và các nước trung cường có thể gặp nhiều thuận lợi trong bối cảnh hiện nay khi các nước trung cường đang ngày một quan tâm đến khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Chiến lược của các nước như Anh, Đức, Pháp, Nhật, Úc… tại khu vực đều nhấn mạnh ủng hộ với vai trò của ASEAN trong khu vực. Anh sau khi rời khỏi EU cũng đang theo đuổi mục tiêu trở thành Đối tác Đối thoại của ASEAN.
Bên cạnh đó, các học giả có nhấn một ý mới là vai trò của Nga tại khu vực Đông Nam Á. Từ trước tới giờ, Nga không chú trọng quá nhiều tới Biển Đông. Biển Đông vẫn xếp sau các khu vực ưu tiên truyền thống và Nga không đủ mạnh để dàn trải nguồn lực. Dù tuyên bố trung lập, thái độ của Nga rất khó đoán. Nga từng ngỏ ý ủng hộ Trung Quốc khi cho rằng Phán quyết Biển Đông 2016 không công bằng và tranh chấp Biển Đông không nên bị quốc tế hóa. Trong khi đó, Nga vẫn duy trì hoạt động của các công ty dầu khí tại Biển Đông với Việt Nam… Do vậy, khả năng các nước Đông Nam Á “lôi kéo” được Nga trong vấn đề an ninh biển vẫn còn cần xem xét.
Các biện pháp đối phó với “chiến thuật vùng xám” của Trung Quốc mà các học giả nêu ra đều thiên về phía Đông Nam Á và khó khả thi bởi các nước này lo ngại sự “trả đũa” từ phía Trung Quốc. Mỹ và các nước “trung cường” có không gian nhiều nhất để thực hiện các hoạt động tuyên truyền về diễn biến thực địa hay động thái tại vùng xám của Trung Quốc. Vụ tàu Trung Quốc tập kết tại Đá Ba Đầu tháng 3/2021 là minh chứng rõ cho thấy khả năng tuyên truyền của Mỹ và các nước trung cường.
Cuối cùng, về chính sách của Malaysia, “lằn ranh đỏ” trong chính sách Biển Đông của Malaysia có thể là về vấn đề dầu khí. Trong khi đó, các học giả chia sẻ quan điểm rằng dầu khí chỉ là khía cạnh nhỏ trong vấn đề Biển Đông (cốt lõi vẫn là các mục tiêu chính trị). Mâu thuẫn này có thể khiến Malaysia gặp khó khăn trong việc tập hợp sự ủng hộ đối với chính sách Biển Đông của Malaysia.
HĐ-TA-LL.